Header Ads

Breaking News
recent

Biến chứng nguy hiểm của bệnh thủy đậu

Bệnh thủy đậu (hay còn gọi là bênh trái dạ) do siêu vi Varicella zoster gây ra. Đây cũng là loại virus gây ra bệnh zona thần kinh. Biểu hiện chính của bệnh là các tổn thương dạng bóng nước trên da và niêm mạc.

Triệu chứng của bệnh thủy đậu

Bệnh thủy đậu sẽ xuất hiện 10 – 14 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh, các triệu chứng là nổi mụn nước với tốc độ rất nhanh trong vòng 12 -24h ở vùng đầu mặt, chi và thân. Mụn nước có đường kính từ 1 – 3 mm, chứa dịch trong, tuy nhiên những trường hợp nặng mụn nước sẽ to hơn hay khi nhiễm thêm vi trùng mụn nước sẽ có màu đục do chứa mủ.
  • Các biểu hiện trên trẻ nhỏ thường là sốt nhẹ, biếng ăn
  • Còn biểu hiện ở người lớn là sốt cao, đau đầu, đau cơ, nôn ói, mệt mỏi.
Sau khi xuất hiện các nốt đậu thường thì người bệnh thủy đậu sẽ giảm sốt và bóng nước khô dần rồi tự bong vẩy, thâm da nơi nổi mụn nước, không để lại sẹo, nhưng nếu bị nhiễm thêm vi trùng mụn nước có thể để lại sẹo. Thông thường bệnh diễn biến kéo dài khoảng 2 tuần.

Người bị nhiễm bệnh thủy đậu có thể bị chỉ nổi từ vài mụn trái rạ cho đến hơn 500 mụn trên thân thể hoặc nhiều hơn rất nhiều.

Thủy đậu lây nhiễm qua những con đường nào?

Bệnh thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm lây lan qua sự đụng chạm đến ban ngứa từ người bị thủy đậu hoặc qua những giọt nước nhỏ trong không khí từ miệng hay mũi của một người bị nhiễm (hắt hơi, nhảy mũi, ho hoặc hôn).
Bệnh cũng có thể lây lan qua sự tiếp xúc đến quần áo hoặc vải trải giường bị nhiễm chất dịch từ ban ngứa hoặc từ miệng hay mũi của người bị bệnh.
Bệnh thủy đậu có thể lây từ 1 – 2 ngày trước khi nổi ban ngứa cho đến khi tất cả những vết phồng đã đóng vảy (thông thường trong vòng 5 ngày từ khi những vết phồng nổi lên).

Biến chứng của bệnh thủy đậu

Dù đây là một bệnh lành tính, không có triệu chứng nặng nề ngoài những hồng ban mụn nước trên cơ thể, nhưng bệnh cũng có những biến chứng khá nguy hiểm sau đây:
  • Biến chứng nhẹ của bệnh là nhiễm trùng tại các nốt đậu, tuy nhiên điều này cũng có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm khác là viêm cầu thận. Nếu không chữa trị kịp thời, tổn thương sẽ ăn sâu, lan rộng, để lại nốt sẹo rỗ gây mất thẩm mỹ, nặng hơn còn dẫn đến viêm mô tế bào, nhiễm trùng máu.
  • Viêm phổi là biến chứng thường gặp ở người lớn với các biểu hiện sốt cao, thở nhanh, khó thở, tím tái, đau ngực, ho ra máu, đây là biến chứng rất nguy hiểm, bệnh nhân có thể tử vong.
  • Viêm màng não vô khuẩn đến viêm não thường gặp ở người lớn với tỷ lệ tử vong khá cao từ 5 – 20%, thậm chí ngay cả khi đã qua khỏi cũng để lại những di chứng hết sức nặng nề là sống đời thực vật.
  • Đặc biệt nguy hiểm khi phụ nữ mang thai mắc bệnh thủy đậu sẽ dễ bị những biến chứng nặng, ảnh hưởng rất lớn đến trẻ sinh ra sau này. Khi phụ nữ mang thai bị thủy đậu ở 3 tháng đầu của thai kỳ, virus sẽ gây sẩy thai, hay khi sinh ra trẻ sẽ bị thủy đậu bẩm sinh với nhiều dị tật như đầu nhỏ, co gồng tay chân, bại não, sẹo bẩm sinh… Nếu mẹ mắc thủy đậu từ 5 ngày trước đến 2 ngày sau khi sinh, trẻ sinh ra dễ mắc bệnh thủy đậu chu sinh và có tỉ lệ tử vong cao (khoảng 30%). Nếu mẹ mắc thủy đậu trước sinh trên 1 tuần diễn biến lành tính, khi sinh trẻ có kháng thể nên không nguy hiểm lắm.

Vaccine phòng bệnh thủy đậu

Tiêm vaccine là phương pháp phòng tránh hiệu quả cao và lâu dài nhất đối với bệnh thủy đậu.

  • Tất cả trẻ em từ 12-18 tháng tuổi được tiêm 1 lần.
  • Trẻ em từ 19 tháng tuổi đến 13 tuổi chưa từng bị thủy đậu lần nào, cũng tiêm 1 lần.
  • Trẻ em trên 13 tuổi và người lớn chưa từng bị thủy đậu lần nào, thì nên tiêm 2 lần, nhắc lại cách nhau từ 4-8 tuần.
Nếu đã được chủng ngừa vaccine thủy đậu thì đại đa số từ 80-90% có khả năng phòng bệnh tuyệt đối. Tuy nhiên, cũng còn khoảng 10% còn lại là có thể bị thủy đậu sau khi tiêm chủng, nhưng các trường hợp này cũng chỉ bị nhẹ, với rất ít nốt đậu, khoảng dưới 50 nốt, và thường là không bị biến chứng.

No comments:

Powered by Blogger.