Header Ads

Breaking News
recent

Bệnh vẩy nến nguyên nhân triệu chứng và cách phòng tránh

Bệnh vẩy nến là bệnh da mãn tính, thường gặp ở tuổi từ 10 – 30 tuổi và hay tái phát. Tuy không lây lan và ít gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng bệnh vẩy nến ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, tâm lý, sinh hoạt, thẩm mỹ.

Nguyên nhân gây bệnh vẩy nến

  • Rối loạn hệ miễn dịch: Bệnh vẩy nến là do sự rối loạn của hệ miễn dịch, một số tế bào miễn dịch thay vì tấn công các yếu tố lạ xâm nhập vào cơ thể như: vi khuẩn, virus… thì lại tác động vào chính biểu bì da, khiến các tế bào này nhanh chóng bị chết đi.
  • Yếu tố di truyền: Các nghiên cứu cho thấy có đến 40% các trường hợp bị bệnh vẩy nến là do yếu di truyền, dựa vào tỉ lệ mắc bệnh vẩy nến của các thành viên trong gia đình. Người ta cho rằng các gen di truyền liên kết với bệnh vẩy nến.
  • Yếu tố tâm lý (căng thẳng): Áp lực tâm lý, môi trường sống, công việc căng thẳng, tâm lý lo lắng, xấu hổ, tự ti vì làn da sần sùi, cũng là tác nhân khởi phát hoặc làm bệnh nặng thêm.
  • Nhiễm khuẩn: Vi khuẩn, đặc biệt là khuẩn liên cầu, thường là các nguồn bệnh chính. Quá trình sinh hoạt không giữ vệ sinh đúng cách hàng ngày khiến da bị nhiễm khuẩn, hoặc dùng chất tẩy rửa quá mạnh cũng góp phần làm bệnh thêm trầm trọng. Virus làm suy giảm hệ miễn dịch ở người (HIV), mặc dù không phải là nguyên nhân chính gây ra bệnh vẩy nến, nhưng được biết là làm bệnh trở nên trầm trọng hơn, nếu người bệnh đã bị mắc bệnh vẩy nến.
  • Dùng thuốc không đúng cách: Một số loại thuốc ví dụ như là lithium, thuốc chống sốt rét, thuốc chống đau tim có ảnh hưởng tiêu cực đến bệnh vẩy nến. Khi dùng thuốc không đúng cách sẽ gây ra nhiều hậu quả đối với người bệnh.
  • Môi trường ô nhiễm: Môi trường bụi bẩn, ô nhiễm không khí, nguồn nước, thức ăn… gây ra nhiều bệnh, trong đó có vẩy nến.

  • Ánh sáng mặt trời: Ánh sáng mặt trời có chứa nhiều tia tốt cho da và sự phát triển cơ thể, nhưng cũng luôn ẩn chứa các hiểm họa như tia tử ngoại. Tiếp xúc quá nhiều với ánh sáng mặt trời vào khoảng thời gian từ 10 giờ tới 15 giờ không chỉ là yếu tố gây phát sinh bệnh vẩy nến mà còn có thể bị ung thư da.
  • Chấn thương thượng bì: Vùng da bị tổn thương không được chữa trị kịp thời và đúng cách sẽ để lại hậu quả lâu dài, điển hình như vẩy nến.

Các loại bệnh vẩy nến

  • Bệnh vẩy nến Plaque (hay vẩy nến thông thường) là dạng bệnh phổ biến nhất của bệnh vẩy nến, chiếm khoảng 80% các trường hợp mắc bệnh. Chúng xuất hiện ở dạng các vết tổn thương màu đỏ, bị lồi lên và thường dẫn đến hiện tượng da bị viêm. Chúng cũng có thể bị bao phủ bởi một lớp vẩy màu bạc hoặc màu trắng. Những vết tổn thương này thì thường được thấy ở đầu gối, khuỷu tay hoặc phía dưới lưng.
  • Bệnh vẩy nến Guttate được định rõ đặc điểm là “các vết tổn thương lốm đốm”, thường là các vết nhỏ màu đỏ xuất hiện trên cơ thể hoặc ở chân tay. Chúng thường không lồi lên như bị vẩy nến Plaque. Bệnh vẩy nến Guttate có thể xuất hiện lần đầu khi còn nhỏ hoặc trong những năm đầu khi mới trưởng thành, hoặc có thể xuất hiện đột ngột.
  • Bệnh vẩy nến Inverse xuất hiện là các mảng màu đỏ sáng, không sần sùi và láng bóng. Chúng thường được thấy ở các nếp gấp và các vùng da mềm như nách, háng, phía dưới ngực hay vùng mông. Những vùng này cũng có thể trở nên bị rát khi bị va chạm và/hoặc khi đổ mồ hôi.
  • Bệnh vẩy nến Pustular thường thấy ở người lớn, và được định rõ đặc điểm bởi các vết phỏng giộp có mủ trắng (không bị nhiễm trùng bởi vì chúng có chứa tế bào bạch cầu). Những vết phỏng giộp này có thể làm vùng da chung quanh đỏ lên, có thể giữ nguyên hoặc lan rộng ra.
  • Bệnh vẩy nến Erythrodermic là hiện tượng viêm da tự nhiên và do đó thường ảnh hưởng đến nhiều vùng da của cơ thể. Các vùng da bị đỏ và bong lớp vẩy ở diện rộng gây nên đau đớn và khó chịu.

Triệu chứng của bệnh vảy nến

  • Phần lớn xuất hiện đầu tiên ở vùng da đầu, vùng tì đè, đối xứng, mặt duỗi nhiều hơn mặt gấp.
  • 2 tổn thương cơ bản: hồng ban và vảy.
  • Mảng hồng ban kích thước to nhỏ khác nhau, giới hạn rõ, hơi gồ cao, nền cứng cộm, thâm nhiễm. Vẩy trắng phủ trên nền hồng ban , trắng đục, hơi bóng xà cừ, nhiều lớp, dễ bong, khi cạo vụn ra như bột trắng, phấn.
  • Hiện tượng Koebner: là hiện tượng “chấn thương gọi tổn thương”, hay gặp trong vảy nến đang nặng. Là tổn thương vảy nến mọc trên ngay vết sẹo, vết xước da, vết mổ, vết tiêm chủng.
  • Thường ngứa ít hay nhiều, thay đổi tủy bệnh nhân.
  • Ngoài ra có thể kèm theo tổn thương ở móng: móng dòn, vụn, dày bờ tự do, 10 móng cùng bị. Tổn thương cũng có thể ở da đầu, mọc lấn ra trán tạo vành vẩy nến.
  • Bệnh tiến triển mạn tính suốt đời, có các đợt tăng bệnh xen kẽ giảm bệnh, bệnh thường lành tính ngoại trừ các thể nặng như vảy nến khớp, vảy nến đỏ da toàn thân.

Cách phòng ngừa bệnh vẩy nến

Bên cạnh việc dùng thuốc, để hạn chế tái phát, giảm triệu chứng, người bệnh cần lưu ý đến việc chăm sóc da như sau:
  • Nên tiếp xúc với ánh sáng mặt trời từ 10-15 ph mỗi ngày vào buổi sáng sớm. Việc phơi nắng cũng mang lại nhiều kết quả tốt trong việc điều trị bệnh vẩy nến nhưng không nên ở quá lâu dưới ánh nắng.
  • Ngâm mình hoặc phần da bị vẩy nến trong nước ấm từ 10 đến 15ph, sau đó bôi thuốc dưỡng ẩm làm mềm da để giúp da mềm và ẩm hơn.
  • Người bệnh vẩy nến tuyệt đối không tắm nước nóng.
  • Tránh để bị côn trùng cắn, không gãi, kỳ cọ, chà xát những vùng da bị tổn thương do bệnh vẩy nến.
Tuy nhiên, người bệnh cần đi khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa để có phác đồ điều trị chính xác tùy tình hình bệnh và sức khỏe của mình, không nên tự điều trị tại nhà.

No comments:

Powered by Blogger.